Coshet > Ergonomics-Tâm sinh lý LĐ

Ergonomics-Tâm sinh lý LĐ

YẾU TỐ TÂM SINH LÝ-ECGÔNÔMI TRONG

TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

Luật An toàn vệ sinh lao động số: 84/2015/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015 gồm 7 chương và 93 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Luật này quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.

Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng phát triển, nhiều loại hình lao động lao động mới cũng ngày càng phát triển theo như lao động điện tử, lao động vận hành… Điều kiện lao động hiện nay cũng có sự thay đổi: ngoài các loại hình lao động tiếp xúc với yếu tố độc hại trong môi trường lao động (yếu tố vật lý, các yếu tố hóa học, các yếu tố vi sinh vật); còn có nhiều loại hình lao động tuy các yếu tố môi trường vẫn nằm trong tiêu chuẩn vệ sinh cho phép nhưng người lao động phải làm việc trong điều kiện tâm sinh lý – Ecgônômi bất lợi: tư thế lao động gò bó, bất hợp lý; lao động lặp lại; đơn điệu; căng thẳng thị giác; căng thẳng thần kinh tâm lý; thời gian làm việc kéo dài… làm ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động và năng suất lao động.

Để thực hiện tốt luật An toàn vệ sinh lao động việc bảo đảm quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong quá trình lao động là trách nhiệm của các cơ quan, doanh nghiệp và cơ sở sử dụng lao động hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; đồng thời giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động.

Hồ sơ vệ sinh lao động là rất quan trọng đối với mỗi cơ sở lao động. Thông tư 19/2011/TT-BYT quy định việc quản lý vệ sinh lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp. Thông tư 19/2011/TT-BYT đã xác định “Các yếu tố vệ sinh lao động bao gồm yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió); vật lý (bức xạ nhiệt, ánh sáng, tiếng ồn, rung, phóng xạ, điện từ trường), bụi; hóa học; vi sinh vật gây bệnh; tâm sinh lý lao động và Ecgônômi; và các yếu tố khác trong môi trường lao động”. Thông tư 19/2011/TT-BYT cũng đã chỉ rõ “Hồ sơ vệ sinh lao động dùng để quản lý môi trường lao động là cơ sở xây dựng kế hoạch cải thiện điều kiện làm việc, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và là thủ tục để giám định bệnh nghề nghiệp cho người lao động”. Như vậy việc đo, xác định yếu tố “Nặng nhọc, nguy hiểm, căng thẳng thần kinh” (theo phần phụ lục hướng dẫn của thông tư này) là rất cần thiết trong lập hồ sơ vệ sinh lao động; đo, kiểm tra giám sát môi trường lao động; quan trắc môi trường lao động hàng năm – Đó là vai trò của yếu tố Tâm sinh lý lao động –Ecgônômi.

Hình 1. Yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi

 trong phụ lục của Thông tư 19/2011/TT-BYT

Việc thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách cho người lao động cũng là trách nhiệm của các cơ quan, doanh nghiệp và cơ sở sử dụng lao động hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Thông tư số 25/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại. Thông tư số này  đã quy định một trong các điều kiện người lao động được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật là làm các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành; đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của Bộ Y tế hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm (trích điều 2). Người sử dụng lao động xem xét, quyết định việc thực hiện bồi dưỡng bằng hiện vật ở mức 1 đối với người lao động làm các công việc không thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, nhưng đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm (trích điều 3, mục 4).

Để xác định các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong điều kiện lao động của người lao động không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép cần dựa theo các quy định, tiêu chuẩn hiện hành.

Theo hệ thống chỉ tiêu về điều kiện lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Công văn số 2753/LĐTBXH-BHLĐ ngày 01/8/1995 
của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) đang có hiệu lực, có 22 chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu về điều kiện lao động gồm hai nhóm chính:

– Nhóm các chỉ tiêu về môi trường lao động: 10 chỉ tiêu

– Nhóm các chỉ tiêu về tâm sinh lý lao động: 12 chỉ tiêu

Mỗi chỉ tiêu được chia thành các mức độ nặng nhọc, độc hại ứng với một số điểm nhất định

 

Hình 2. Yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi

trong hệ thống chỉ tiêu về điều kiện lao động

Để thực hiện luật An toàn vệ sinh lao động (Thông tư số 19/2011/TT-BYT, thông tư  25/2013/TT-BLĐTBXH…), việc lựa chọn đơn vị đủ điều kiện đo, kiểm tra môi trường lao động; có trang thiết bị hiện đại, uy tín cũng là điều được nhiều cơ sở sử dụng lao động quan tâm. Bởi vậy việc thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn của mỗi đơn vị, Trung tâm Y tế dự phòng là hết sức cần thiết.

Mặc dù có thể sẽ có sự chỉnh sửa của các thông tư liên quan tới luật An toàn vệ sinh lao động trong thời gian tới, tuy vậy yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi vẫn là một trong những yếu tố quan trọng trong đánh giá điều kiện lao động, quan trắc môi trường lao động và thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động.

HỢP TÁC VỀ LĨNH LỰC TÂM SINH LÝ LAO ĐỘNG VÀ ECGÔNÔMI

VỚI CÁC ĐƠN VỊ, TRUNG TÂM

I. Các dịch vụ, lĩnh vực có thể hợp tác

1. Thực hiện việc đánh giá các yếu tố tâm sinh lý – Ecgônômi trong quan trắc môi trường lao động; đo- kiểm tra môi trường lao động, lập hồ sơ vệ sinh lao động (theo thông tư 19/2011/TT-BYT)

2. Đánh giá các yếu tố tâm sinh lý –Ecgônômi  làm cơ sở để thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động (theo thông tư  25/2013/TT-BLĐTBXH).

3. Đánh giá gánh nặng điều kiện lao động, lao động thể lực, căng thẳng thần kinh tâm lý, gánh nặng nhiệt, gánh nặng hệ cơ xương khớp… làm cơ sở khoa học để phân loại nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

4. Đánh giá tư thế lao động và tư vấn các giải pháp can thiệp cho cơ sở lao động.

5. Tư vấn can thiệp Ecgônômi, tổ chức lao động, chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý, hướng dẫn tư thế, các bài tập thể dục, thư giãn… nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động và giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động.

6. Đào tạo, tư vấn để cơ sở tự cải thiện điều kiện lao động

7. Tư vấn thiết kế Ecgônômi cơ sở lao động.

8. Cung cấp các khoá đào tạo cơ bản, nâng cao cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu trong đánh giá điều kiện lao động, lĩnh vực tâm sinh lý – Ecgônômi

9. Cung cấp các khoá đào tạo cơ bản, nâng cao cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu theo các chuyên đề riêng biệt, theo từng ngành nghề như điện tử, may mặc, da giầy, văn phòng, cơ khí…

1. Ecgônômi trong an toàn vệ sinh lao động

 13/04/2017
Ecgônômi trong an toàn vệ sinh lao động
 
TS. Nguyễn Thu Hà

Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường

Từ “Ecgônômi” xuất phát từ gốc Hy lạp: Ergo – có nghĩa là lao động; Nomos – qui luật. Theo định nghĩa của Hội Ecgônômi quốc tế (IEA): Ecgônômi là khoa học liên ngành, được cấu thành từ các khoa học về con người để phù hợp công việc, hệ thống máy móc, thiết bị, sản phẩm và môi trường với các khả năng về thể lực, trí tuệ và cả với những hạn chế của con người. Ecgônômi được coi là khoa học ứng dụng, có mục đích làm phù hợp các yêu cầu của sản phẩm, công việc và chỗ làm việc với người sử dụng. Mục đích quan trọng của Ecgônômi là quan tâm đến các yếu tố con người khi thiết kế và hoàn thiện trang thiết bị máy móc, hệ thống, môi trường và đồ vật con người sử dụng, vận hành. Trong lao động, ecgônômi là lĩnh vực kiến thức, nghiên cứu tổng hợp hoạt động lao động của con người trong mối liên quan với kỹ thuật máy móc và môi trường nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả lao động, sức khoẻ an toàn và sự thoải mái. Murrell, 1965, đã định nghĩa ngắn gọn là: Ecgônômi là khoa học nghiên cứu mối liên quan giữa con người và môi trường lao động.

An toàn vệ sinh lao động – Sức khỏe nghề nghiệp luôn là mục tiêu được quan tâm đặc biệt. Để đảm bảo An toàn vệ sinh lao động – Sức khỏe nghề nghiệp cần phải xác định các yếu tố nguy cơ trong lao động, từ đó có các giải pháp cải thiện Ecgônômi phù hợp. Nhiều tổ chức, cơ quan đã đưa ra các tài liệu hướng dẫn cụ thể xác định từng loại yếu tố nguy cơ: Năm 2010 IEA (International Ergonomic Asociation) và ICOH (International Commission on Occupatinal Health) đã xuất bản tài liệu “Hướng dẫn Ecgônômi về y học lao động ở các nước công nghiệp đang phát triển”. Tài liệu này cũng đã chỉ ra:

Các yếu tố nguy cơ có thể có từ phía:

–   Người lao động. Đó là năng lực và những hạn chế của họ: có được đào tạo khi làm việc hay không, kỹ năng làm việc cũng như kinh nghiệm trong công việc. Khả năng thể lực và tuổi tác cũng là các yếu tố đáng được quan tâm

 

Hình ảnh cán bộ Khoa Tâm sinh lý lao động – Ecgônômi

     nhận bằng chứng nhận tham gia khóa đào tạo về Ecgônômi

   Thiết kế công việc: Yêu cầu công việc như: Gánh nặng lao động, khoảng thời gian của các thao tác, gánh nặng cơ đặc biệt là đối với các công việc lặp lại và thời gian trong ca lao động; Các tư thế lao động có nhiều yếu tố nguy cơ có thể kể tới như: tay cao qua đầu; cúi, với về phía trước; quỳ hoặc luồn; các hoạt động phải xoay người; Yêu cầu về trí tuệ như: Các hiểu biết và đào tạo về kỹ thuật mới, trách nhiệm với công việc, do yêu cầu của công việc và thái độ cần phải ra quyết định

–   Thiết kế các trang thiết bị nơi làm việc. Đó là việc xác định tư thế lao động và các chuyển động hoặc cách sắp xếp nơi làm việc; các thông tin được trình bầy và cần kiểm soát ví dụ mặt đồng hồ, các nút bấm và công tắc; các thiết kế lựa chọn và duy trì công cụ; đánh giá về máy móc và cơ thể con người; điều kiện nơi làm việc như mặt bằng trơn, trượt, máy móc không an toàn, làm việc ở độ cao mà không có che chắn hoặc che chắn không an toàn

–   Thiết kế môi trường lao động như: Không gian làm việc, đánh giá và sắp xếp công việc; tiếng ồn; điều kiện môi trường nóng, ẩm, bụi, bẩn

–   Tổ chức lao động: Lao động ca kíp; quá trình kiểm soát công việc; yêu cầu của công việc (thể lực ho ặc trí tuệ) về chất lượng hoặc số lượng; khuyến khích công nhân; t ập huấn công việc; xem xét lại công việc một cách thỏa đáng; giao tiếp, thảo luận và phản hồ i; nhận ra hiệu quả

Các kỹ thuật sử dụng để đánh giá các yếu tố nguy cơ là:

–   Các yếu t ố nổi bật: Tần xuất của nguy cơ (nguy cơ có thường xuyên không, bao nhiêu người tiếp xúc, bao nhiêu người ảnh hưởng do tiếp xúc); sự trầm trọng của nguy cơ (các tổn thương và mố i liên quan với nguy cơ, chi phí cho các thương tổn/ tai nạn hoặc các tổn thương liên quan đến nguy cơ tiềm ẩn); công việc và các yếu tố cá nhân có thể tạo nên nguy cơ (công việc ngoài trời, gánh nặng công việc, môi trường lao động, tổ chức lao động, đào tạo, khả năng của từng cá thể)

–   Các yếu tố đặc biệt quan trọng: Quá trình làm việc, nguyên nhân gây tổn thương, chấn thương, gây đau mỏi

Như vậy khi phân tích Ecgônômi, xác định các yếu tố nguy cơ về an toàn vệ sinh lao động và sức khỏe nghề nghiệp cần phải xem xét một cách toàn diện đặc biệt chú ý đến các yếu tố nguy cơ hay gặp xẩy ra các chấn thương trong lao động, các ảnh hưởng đến hệ cơ xương khớp ở người công nhân như các tổn thương hệ cơ xương (rối loạn cơ xương) đặc biệt vùng thắt lưng, tổn thương chi trên…

Đã có nhiều cải thiện Ecgônômi đơn giản nhưng mang lại hiệu quả về an toàn vệ sinh lao động cao như thiết kế ghế ngồi phù hợp với đặc điểm nhân trắc của công nhân may đã giảm đau mỏi cơ và thắt lưng; làm bàn quay ở độ cao hợp lý để đánh vecni ở xưởng mộc đã giảm căng thẳng và đau mỏ i cơ; làm giá hứng nguyên vật liệu tránh rơ i xuống sàn để công nhân không phải cúi xuống nhặt, đồng thời vệ sinh công nghiệp tốt hơn ở xí nghiệp sản xuất túi da; làm bàn ghế phù hợp ở vị trí hàn ở 1 xí nghiệp sản xuất ô tô đã giúp công nhân tránh được tư thế xấu (ngồi xổm, cúi vẹo người) khi ngồi hàn. Ở một xí nghiệp sản xuất đồ gỗ, công nhân ngồi làm việc trên những ghế không phù hợp đã gây đau mỏi lưng, ngoài ra ghế cồng kềnh khó vận chuyển đến vị trí khác. Sau khi thiết kế lại ghế gỗ nhẹ có đệm lót có thể thay đổi được chiều cao chỉ phải chi phí 10 đôla cho 5 ghế nhưng đã giảm phàn nàn đau lưng của công nhân, đồng thời năng suất lao động cũng tăng lên. Tại vị trí làm khuôn đúc ở ấn độ, thiết kế ghế ngồi hợp lý giúp cho công nhân tránh được tư thế phải ngồi xổm khi làm việc và dễ với tới hơn, vị trí lao động gọn gàng vệ sinh hơn, chi phí có 40 đôla mà năng suất 1 ca tăng 30%. Cũng tại một xí nghiệp điện tử ở Pakistan, dùng ghế phù hợp điều chỉnh được độ cao đã tăng khả năng nhìn của mắt, giảm đau mỏi cơ thể, tăng hiệu suất công việc 10% .

Ngoài những cải tiến bàn ghế hợp lý, tại các nước đang phát triển, một số phương pháp đơn giản giảm yếu tố độc hại trong sản xuất cũng được áp dụng rộng rãi. Để giảm nhiệt bức xạ từ lò nung nhiệt độ cao ở một phân xưởng sản xu ất Cácbon ho ạt tính ở Srilanca tác động lên công nhân, người ta đã dùng sơn có nhôm sơn mặt ngoài lò nung, dùng tạp dề có sợi nhôm ở mặt ngoài và sợi bông ở mặt trong, có tấm chắn 2 lớp bằng sắt di động trước cửa lò nung. Một trong những phương pháp rất đơn giản làm giảm hẳn nồng độ bụi tại một xí nghiệp xay sát lương thực là dùng túi đay cói buộc vào miệng ống xả bột sắn ngô. Những cải thiện dùng quạt hút đẩy, mở rộng cửa sổ ở những vị trí lao động có các yếu tố độc hại đã cải thiện đáng kể môi trường lao động cho công nhân.

Ngoài những cải tiến trên, tại các nước đang phát triển ở châu Á đã tiến hành một loạt những cải thiện khác tại vị trí lao động như dọn quang và xếp đặt thiết bị gọn gàng bằng cách làm giá có bánh xe để vật liệu và chuyên chở vật liệu trong các xí nghiệp sản xuất kim loại và gỗ; cải tiến thiết kế kéo dài tay cầm tránh đưa tay vào gần máy; cải tiến lắp thêm thiết bị khoá và bộ phận điều khiển thoi máy dệt đã đảm bảo an toàn cho công nhân vệ sinh và bảo dưỡng máy; cải tiến chiếu sáng tự nhiên tốt hơn bằng dùng tôn nhựa trong lắp trên mái và định kỳ lau chùi kính, tăng cường chiếu sáng nhân tạo bằng bố trí lại nguồn sáng hợp lý; cải tiến chu kỳ lao động nghỉ ngơi giữa giờ: giảm chu kỳ lao động 1giờ và nghỉ 1 giờ xuống còn lao động 1/2 giờ nghỉ 1/2 giờ tại xí nghiệp cán thép ở Calcuta ấn độ đã làm giảm mệt mỏi và làm giảm khả năng rối loạn nhiệt về mùa hè cho công nhân.

Tại các nước phát triển như Nhật Mỹ, những cải thiện Ecgônômi vị trí lao động, trang thiết bị hợp lý cũng được chú trọng. Nghiên cứu can thiệp Ecgônômi của Gallager Sean(Mỹ) ở mỏ từ 1989 – 1996 đã thành công. Đã có nhiều những cải thiện đơn giản nhưng đem hiệu quả cao như giảm trọng lượng gỗ bằng cách kê gỗ lên và dùng tấm che mưa để giữ gỗ khô; cải tiến ghế ngồi tốt hơn có giảm xóc và đệm tốt hơn; trang bị thiết bị cơ giới và xe cho vận chuyển và nâng vật nặng, thay xẻng sắt bằng xẻng nhôm và làm móc cầm tay vào cán xẻng đã giảm trọng lượng xúc, cải thiện tư thế lao động; bảo dưỡng dụng cụ ngay dưới mỏ không đem lên mặt đất đã tiết kiệm thời gian sức lực cho công nhân. Một số cải tiến thiết kế công cụ khác trong nông nghiệp, trong chế biến thực phẩm của các chuyên gia của viện Sức khỏe và An toàn lao động Mỹ (NIOSH) đã giảm đau mỏi và bệnh cơ xương khớp cho công nhân. Tại một xí nghiệp điện tử ở Mỹ, việc áp dụng các giải pháp Ecgônômi đã mang lại hiệu quả rõ rệt làm cho công nhân thoải mái hơn khi Làm việc và giảm tỷ lệ tai nạn, chấn thương.

Khi điều kiện lao động không được đảm bảo thì ngoài vấn đề tai nạn lao động, người lao động còn phải chịu hậu quả của các bệnh nghề nghiệp mà hầu như đến giờ người ta vẫn chưa tìm thấy các phương thuốc chữa trị. Theo định nghĩa chung nhất bệnh nghề nghiệp là tình trạng bệnh lý phát sinh do lao động hay do những điều kiện lao động có tác hại nghề nghiệp gây nên. Nhiều bệnh có thể coi là bệnh nghề nghiệp dù những bệnh này gặp cả trong nhân dân nhưng theo thống kê tỷ lệ mắc bệnh này ở trong những người tiếp xúc cao hơn ở những người không tiếp xúc. Sự gia tăng ô nhiễm môi trường lao động cũng đồng nghĩa với sự gia tăng số người mắc mới bệnh nghề nghiệp.

Các giải pháp Ecgônômi can thiệp để cải thiện điều kiện lao động nhằm đảo bảo an toàn vệ sinh lao động – sức khỏe nghề nghiệp cũng đã được áp dụng ở Việt Nam:

Tạ Tuyết Bình và cộng sự năm 1993 đã áp dụng phương pháp luyện tập thư giãn cho công nhân làm việc trong điều kiện đơn độc, tự động hoá cao dưới công trình ngầm, sau luyện tập các chức năng hô hấp, tim mạch ở công nhân tốt hơn, giảm căng thẳng thần kinh-cảm xúc và một số rối loạn chức năng cơ thể.

1.Định nghĩa

– ILO: “Ecgônômi là sự áp dụng khoa học sinh học người kết hợp với khoa học công nghệ vào người vàmôi trường của họ để có được sự thoả mãn tối đa cho người lao động đồng thời tăng năng suất lao động”.

– Kỹ thuật học các yếu tố con người.

– Thích hợp với công việc con người.

2.Sự phát triển vànhững thay đổi gần đây của Ecgônômi

– Những năm 50: quân sự

– Những năm 60: công nghiệp

– Những năm 70: sản phẩm tiêu ding

– Những năm 80: người- máy tính- phần mềm

– Những năm 90: nhận thức vàtổ chức.

3.Các phương pháp trong Ecgônômi

1. Chẩn đoán (đánh giá)

Trong ecgônômi, việc chẩn đoán được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn người lao động, tranh tra vị thế lao động, đo lường trên người lao động, thử nghiệm các thông số môi trường lao động, áp dụng bằng kiểm tra ecgônômi.

2. Xử lý

Các giải pháp ecgônômi được hình thành trên cơ sở các số liệu thu thập được trong giai đoạn “chẩn đoán”. Những sửa chữa này có thể rất đơn giản như thay đổi vị trí trang thiết bị đến quy mô thiết kế hay mua thiết bị mới.

3. Theo dõi

Qua các đánh giá chủ quan hay khách quan.

– Chủ quan: phỏng vấn người lao động;

– Khách quan: đo lường các yếu tố môi trường, tỷ lệ sản phẩm, tỷ lệ ốm, tai nạn, biến đổi chỉ tiêu tấm-sinh lý…

4. Áp dụng Ecgônômi

Hiệu quả vận hành của bất kỳ thiết bị nào cũng phụ thuộc vào sự tương tác chặt chẽ giữa người và máy. Bởi vì việc làm thay đổi khả năng của con người là rất hạn chế. Tốt hơn cả làphải làm cho thiết bị vàcông việc phù hợp với người sử dụng. Hầu hết các máy hiện nay được thiết kế để thực hiện công việc tối ưu, nhưng có thể lại vượt quá khả năng thực thể của con người. Kết quả làngười vận hành không thể điều khiển máy hiệu quả do những căng thẳng về thể lực và tinh thầnkhông cần thiết.Tác động qua lại giữa người vận hành vàmôi trường lao động xung quanh bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố: thiết kế nơi làm việc, các bộ phận điều khiển, máy móc. Các công việc, thiết bị làm việc lại có thể ảnh hưởng đến tư thế lao động, độ thoải mái, hiệu quả làm việc của người lao động.Các yếu tố thực thể ở nơi làm việc gồm: các yếu tố vật lý (ổn, rung, vi khí hậu,thông gió…), các yếu tố hoá học, các yếu tố sinh học…

Các yếu tố tâm lý xã hội liên quan đến tổ chức lao đoọng để tạo cho người lao động có môi trường làm việc có nhiều động lực. Thời gian làm việc nghỉ ngơi, hệ thống ca kíp, hệ thống giám sát an toàn lành mạnh nơi làm việc… lànhững khía cạnh quan trọng có ảnh hưởng đến sự hào hứng, động lực và niềm hạnh phúc của người lao động.

Nhân trắc học và thiết kế nơi làm việc

Tạo sự tương tác tốt của máy đối với các đặc điểm của con người gồm những việc nhiều thử thách. Đau lưng, đau cổ và các căng thẳng khác do tư thế làm việc bất lợi làhiện tượng phổ biến trong nhiều doanh nghiệp, nơi màcông việc yêu cầu người lao động phải thường xuyên đứng hay ngồi trong những tư thế tương đối cố định với thời gian dài. Chúng ta thường they trong nhiều doanh nghiệp, cơ quan, bàn làm việc, công cụ, máy móc được đưa vào sử dụng màkhông xem xét mối tương quan giữa chúng với nhau vàvới người sử dụng. Sự thiết kế kém, các tư thế bất lợi có thể dẫn đến những khó chịu vàmệt mỏi. Ngoài ra, bỏ qua sự khác nhau về nhân trắc học vàdân tộc, khi nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài vào mà không cân nhắc điều kiện văn hoá-xã hội tại nơi làm việc có thể có hậu quả xấu. Tất cả những điều đó có thể dẫn đến rối loạn do chấn thương tích luỹ hoặc tổn thương do căng thẳng lặp đi lặp lại. Công cụ vàmáy thiết bị phù hợp với người vận hành ở một nước có thể không phù hợp với người vận hành ở nước khác.

4.1. Nhân trắc

Thiết kế nơi làm việc, thiết bị vàmôi trường để có thể phù hợp với số động người lànhiệm vụ phức tạp. Để thích ứng nơi làm việc với kích thước con người thì đo kích thước cơ thể là điều cần thiết. Kích thước cơ thể của các nhóm người ở vùng địa lý khác nhau, nhóm dân tộc khác nhau thì khác nhau rất rõ. Cần chú ý áp dụng các tiêu chuẩn từ vùng này đến vùng khác.

Ecgônômi tập trung vào sự phù hợp của máy với người vận hành để người vận hành có khả năng làm việc hiệu quả.

4.2. Thiết kế nơi làm việc

Nếu thiết kế nơi làm việc để phù hợp với người cỡ trung bình thì không đủ. Trong tường hợp thiết kế các tiện nghi người ta thường dưa trên nhân trắc của người cỡ lớn (95%). Tuy nhiên cũng cần chú ý đến những người sử dụng có nhỏ hơn. Chiều cao bàn ghế không phù hợp sẽ giảm hiệu quả vàgây mệt. Song khi thiết kế máy lại dựa vào nhân trắc của người cỡ nhỏ (5%) để đảm bảo rằng những bộ phận điều khiển nằm trong tầm với thuận lợi.

Nguyên lý chung:

– Kích thước các khu vực làm việc phải phù hợp với 95% người sử dụng

– Khi chọn số liệu nhân trắc phải chú ý tới định nghĩa chính xác của phép đo và sai số có thể chấp nhận được

– Tầm vóc của con người có thể thay đổi theo thời gian nên kích thước tối ưu

được xây dung phải được điều chỉnh theo thời gian.

Lao động ở tư thế ngồi: khi chọn tư thế ngồi cần phải dựa vào:

– Sự liên quan giữa chỗ ngồi vàdiện tích làm việc

– Khả năng thay đổi tư thế

– Dễ đứng lên vàngồi xuống

– Mặt ngồi và lưng có đệm tốt

– Vị trí các bộ phận điều khiển, phạm vi hoạt động

– Khoảng không cho đùi Lao động ở tư thế đứng: khi chọn tư thế đứng hay ngồi cần dựa vào:

– Độ lớn của lực và phương tác động

– Phân bố của bộ phận điều khiển

– Khả năng thay đổi tư thế (xen kẽ với ngồi)

– Trong trường hợp bàn làm việc không điều chỉnh được chiều cao thì nguyên tắc là chọn chiều cao bàn làm việc phù hợp với người cỡ lớn (95%).

Tư thế thuận lợi của đầu:

– Tư thế đứng: góc tạo nên giữa hướng nhìn với đường nằm ngang 23-270

– Tư thế ngồi: góc tạo nên giữa hướng nhìn với đường nằm ngang 32-440

4.3. Bố trí mặt bằng làm việc

– Vùng tối thuận: vùng có bán kính từ khuỷu tay đến bàn tay khi gấp

– Đường bán kính cầm nắm tối đa: mỏm vai đến bàn tay khi gấp.

2.  Tâm  Sinh Lý lao Động

TÂM LÝ HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

 

 PGS.TS Đào Thị Oanh        

            1. ĐẶT VẤN ĐỀ

      Ngày 18 tháng 10 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động với mục tiêu tổng quát là: Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; Ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ người lao động; Nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng và hạnh phúc cho người lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

Bộ luật Lao động của nước ta có quy định về quyền của người lao động, trong đó có quyền được làm việc trong điều kiện đảm bảo về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Hàng năm từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 3, Nhà Nước có tổ chức Tuần lễ Quốc gia An toàn – Vệ sinh lao động và cho đến nay hoạt động này đó là lần thứ 17. Việc hiện thực hóa những quyền lợi nêu trên của người lao động đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó có Tâm lí học, mà cụ thể là Tâm lí học An toàn lao động.

2. TÂM LÍ HỌC AN TOÀN LAO ĐỘNG NGHIÊN CỨU CÁI GÌ?

     Việc khai thác kỹ thuật và công nghệ ở những nước phát triển trong những năm 60-70 của thế kỷ XX đã kéo theo sự tăng lên một cách đột ngột và thường xuyên số lượng các chấn thương trong sản xuất. Trong nhiều lĩnh vực sản xuất, trước hết là trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, đặc biệt vận tải hàng không, số lượng các sự cố rất nhiều, còn cái giá phải trả cho các sự cố đó thì thường xuyên tăng lên. Việc thừa nhận ý nghĩa của yếu tố người trong hệ thống “Người – Máy – Môi trường” đã dẫn đến việc hình thành những phương pháp tiếp cận mới trong thiết kế và khai thác kỹ thuật. Những bộ môn khoa học mới về lao động mang tính tích hợp cao đã ra đời như: Tâm lý học Lao động, Ecgônômi, Tâm lý học An toàn lao động…

Tâm lý học an toàn lao động là một phân ngành của Tâm lý học và là một lĩnh vực của Ecgônômi. Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu các nguyên nhân tâm lý, tâm-sinh lý, tâm lý-xã hội của các trường hợp tai nạn trong sản xuất, xảy ra ở các loại hình lao động và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau, đồng thời nghiên cứu tìm kiếm những con đường khác nhau nhằm nâng cao an toàn lao động. Các vấn đề nghiên cứu của Tâm lý học An toàn lao động rất phong phú và đa dạng. Đó là các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý, các đặc điểm tâm lý của con người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, có liên quan hoặc đi kèm với hoạt động lao động, có ảnh hưởng đến an toàn lao động. Tâm lý học An toàn lao động tham gia giải quyết trực tiếp các nhiệm vụ nhằm tối ưu hóa hoạt động lao động, thiết kế kỹ thuật an toàn hơn, hoàn thiện các điều kiện lao động và các phương tiện bảo hộ lao động để nâng cao an toàn lao động bằng cách đưa các yếu tố tâm lý vào trong quá trình sản xuất.

3. MỘT SỐ YẾU TỐ TÂM-SINH LÝ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG    

Trong một hệ thống sản xuất, mặc dù con người được xem là một tiểu hệ thống khép kín (có khả năng tự điều chỉnh), song về bản chất đó vẫn là một hệ thống mở với nhiều đầu vào và nhiều đầu ra. Điều này làm cho yếu tố người mang tính chất của một nguồn tin cậy hay không tin cậy trong toàn bộ hệ thống. Trong bất cứ một kiểu hệ thống sản xuất nào (chân tay, cơ giới hoá, bán tự động, tự động hoá), con người luôn luôn thực hiện những chức năng thao tác khác nhau bằng những khả năng của mình. Tính chất của một hệ thống mở cho phép con người có thể thoát ra khỏi những tình huống khó khăn. Nhưng các khả năng của con người không phải là không có giới hạn. Các nghiên cứu về thành tích hoạt động cho thấy: Con người không bao giờ luôn luôn làm việc theo một nhịp độ đều đặn như nhau ở mọi thời điểm. Ngay cả một người công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm thì tại một thời điểm nhất định nào đó, nhịp độ làm việc của người đó cũng có thể dao động từ 10% đến 30% so với nhịp độ trung bình. Tuy con người có thể bao quát một phổ khá rộng các kích thước vật lý, nhưng khả năng phân biệt tín hiệu của con người còn hạn chế và nằm trong khoảng 7 ± 2 tín hiệu. Chúng ta cũng biết rằng, ở những thời kì lịch sử khác nhau, khả năng của con người có khác nhau. Nhưng, dù tiến bộ đến thế nào đi nữa thì thành tích của con người vẫn nằm trong chính thứ tự một giá trị độ lớn. Chẳng hạn, từ rất lâu rồi, tốc độ chạy bộ vẫn nằm ở giá trị đo là m/s. Rõ ràng là, về bản chất, con người có một mức độ tự do nào đó mà trong những điều kiện bình thường cần được lưu ý.

     Như vậy, thành tích lao động và sự an toàn lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Tính chất của bản thân hoạt động lao động ( đơn điệu, nguy hiểm… ); Điều kiện lao động (máy móc, môi trường vật lý, môi trường xã hội của lao động); Các đặc điểm tâm lý, tâm-sinh lý, tâm lý – xã hội của bản thân người lao động (Trình độ các kỹ năng/kỹ xảo lao động, khả năng tư duy, tri giác, trí nhớ, sự tập trung/di chuyển/phân phối chú ý, vận động, tình trạng sức khoẻ, sức làm việc, động cơ/hứng thú/sự thoả mãn lao động…).

     Bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ trước, rất nhiều công trình nghiên cứu (nước ngoài) đã khẳng định chắc chắn mối liên hệ giữa các đặc điểm tâm – sinh lý của cá nhân với tình trạng chấn thương. Đó là: Tình trạng sức khoẻ kém, cảm giác vận động kém; Khả năng chú ý (phân phối, tập trung, di chuyển) kém; Tính dễ bị kích động; Tự tin quá mức đến chủ quan; Thiếu nhạy cảm trong quan hệ với người khác; Thái độ thiếu tích cực đối với công việc lao động; Không hài lòng với không khí tâm lý của tập thể lao động nơi cá nhân đang làm việc…

     Một số nghiên cứu cũng tìm ra những đặc điểm xã hội có liên quan trực tiếp đến tần suất các trường hợp bất hạnh trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Đó là: Thiếu sự giám sát lẫn nhau giữa các công nhân do quá tin tưởng nhau vì đã làm việc lâu năm cùng với nhau; Sự ảnh hưởng hành vi của một thành viên trong đội tàu tới những thành viên khác; Nhận được các mệnh lệnh khác nhau cùng một lúc…

     Như trên đã nói, khả năng của con người là có giới hạn và có thể thấy rõ điều này khi xem xét khái niệm “Sức làm việc”.

     Sức làm việc là một khái niệm sinh lý học, nói lên khả năng làm việc dẻo dai, lâu bền, không biết mệt mỏi sớm. Sức làm việc của con người phụ thuộc vào nhiều nhân tố: bên ngoài (những yêu cầu của sản xuất: Tính chất của các động tác/sự phức tạp của chúng, độ chính xác, cường độ…; Những điều kiện của môi trường sản xuất, như điều kiện vệ sinh, không khí tâm lý; Trình độ chuyên môn của công nhân; Tuổi tác…) và bên trong (tính chất phản ứng của công nhân, tình trạng của hệ thống chức năng, trạng thái thần kinh – tâm lý, trạng thái mệt mỏi…). Thông thường, người ta lấy năng suất lao động làm chỉ số của sức làm việc.

     Trong một ngày lao động (hay một ca sản xuất), sức làm việc có những biến đổi xác định, mang tính quy luật, không phụ thuộc vào công việc hay môi trường lao động. Sự biến đổi đó được thể hiện dưới dạng một đồ thị, được gọi là “Đường cong của sức làm việc”. Đồ thì này có ý nghĩa to lớn đối với thực tiễn lao động sản xuất của con người.

Trong trường hợp điển hình, với nhịp độ tối ưu của hoạt động sản xuất, sức làm việc được biến đổi theo một đường cong hai pha: Tăng ở lúc đầu và giảm ở cuối ca sản xuất. Trong một nửa ngày làm việc có ba giai đoạn rõ rệt là: Giai đoạn “đi vào công việc” (a); Giai đoạn “sức làm việc tối đa” hay “sức làm việc ổn định” (b); Giai đoạn “sức làm việc giảm sút” hay “ sự mệt mỏi phát triển” (c).

     Tuỳ theo loại hình lao động và các điều kiện lao động cụ thể mà thời gian diễn ra ở từng giai đoạn có thể dao động từ vài phút đến hàng giờ.

     Ở nửa sau của ngày làm việc, ba giai đoạn trên lặp lại kế tiếp nhau song có sự khác biệt, thể hiện ở chỗ: Giai đoạn 1 ngắn hơn; Giai đoạn 2 cũng ngắn hơn, tuy nhiên sức làm việc tối đa thấp hơn; Giai đoạn 3 sự mệt mỏi xảy ra sớm hơn. Trong một số trường hợp, có sự nâng cao sức làm việc ở cuối ngày (d). Đó là do tác động của cảm xúc khi người lao động nhìn thấy trước sự kết thúc ngày làm việc (xem hình 1). Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy, sức làm việc của nửa ngày đầu cao hơn nửa ngày sau khoảng 30%.

     Cần nói thêm rằng, đường cong điển hình của sức làm việc không chỉ thể hiện sự biến đổi của sức làm việc trong một ngày làm việc, mà cả trong một tuần làm việc, một tháng làm việc, một năm làm việc. Nó không giống với khái niệm “nhịp sinh học”.

     Như trên đã nói, đồ thị có ý nghĩa thực tiễn to lớn vì căn cứ vào đó có thể tổ chức các giờ giải  lao một cách hợp lý, khoa học trong một ca sản xuất nhằm tránh sự mệt mỏi đến sớm, góp phần đảm bảo an toàn lao động cho người lao động. Bởi vì nhiều nghiên cứu (ở Anh, Mỹ,…) cho thấy tỷ lệ các trường hợp bất hạnh trong sản xuất tăng lên khi độ mệt mỏi tăng và hạ thấp rõ rệt khi công nhân được nghỉ ngơi. Ở cuối nửa ca đầu và cuối nửa ca sau, tỷ lệ đó chiếm những “đỉnh” cực cao, bởi đó là những lúc người công nhân mệt mỏi nhất. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự mệt mỏi thúc đẩy việc nảy sinh trường hợp bất hạnh chứ không gây ra sự bất hạnh. Đó là một nhân tố có tính chất tạm thời, theo nghĩa, nó là một hiện tượng khách quan không thể tránh khỏi vì có lao động là có mệt mỏi, nhưng không phải ai mệt mỏi cũng gây tai nạn, vì thế có thể khắc phục bằng cách xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Ngày nay, khi nghiên cứu về nguyên nhân gây ra các trường hợp tai nạn trong sản xuất, các công trình càng chú ý nhiều hơn tới vai trò của các trạng thái tâm lý, tâm trạng người lao động, thái độ của họ đối với lao động. Các nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do người lao động chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định an toàn lao động, chưa tự giác chấp hành quy trình quy phạm vận hành máy móc, khai thác thiết bị một cách an toàn. Bên cạnh đó, các nhà quản lý lao động chưa quan tâm đúng mức đến việc cải thiện điều kiện làm việc vệ sinh hơn, an toàn hơn cho người lao động, trong đó có an toàn về mặt tâm lý.

 4. LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN NGỪA CÁC TAI NẠN LAO ĐỘNG

 Bất cứ một cơ sở sản xuất nào cũng được xem là một hệ thống. Vì vậy vấn đề an toàn lao động cần được bao quát trong toàn bộ hệ thống bởi vì sự tác động qua lại giữa các thành tố sẽ làm cho bất cứ một thay đổi nào trong phạm vi của một thành tố cũng sẽ gây ra những thay đổi trong toàn bộ hệ thống.

     Vấn đề an toàn lao động đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau cho nên luôn đòi hỏi sự cộng tác của các nhà chuyên môn thuộc những lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, yếu tố quan trọng nhất là người lao động, người tham gia một cách hữu hiệu, tích cực vào an toàn lao động và tự bảo vệ bản thân. Với mục đích hoàn thiện tình trạng an toàn cho hệ thống, hành động ngăn ngừa được thể hiện thông qua một loạt biện pháp có liên quan với nhau và hỗ trợ cho nhau. Từ góc độ tâm lí học, có thể vận dụng các yếu tố tâm lí vào xây dựng môi trường lao động trở nên hợp lí, thuận tiện, vệ sinh, gúp phần làm giảm thiểu các nguy cơ mất an toàn trong quá trình sản xuất, đồng thời làm tăng năng suất lao động (ánh sỏng, màu sắc trong cụng nghiệp,…).

     a/ Tuyên truyền giáo dục về an toàn lao động. Đây là một biện pháp ngăn ngừa nhằm hình thành cho người công nhân một hành vi phù hợp thông qua thái độ thực của họ để nâng cao hiệu quả và sự an toàn lao động. Thay đổi hành vi của con người là việc làm không dễ dàng, nhất là việc thay đổi các thói quen và kỹ xảo lao động, vì thế, nếu được quan tâm sớm (ví dụ, ngay trong giai đoạn đào tạo nghề) thì sẽ thuận lợi hơn nhiều.

     b/ Đào tạo nghề nghiệp. Để có thể góp phần làm thay đổi hành vi nhằm nâng cao an toàn lao động cho công nhân, việc đào tạo nghề cần phải được tiến hành có kế hoạch và phải được kiểm tra cẩn thận. Ở đây  không chỉ lưu ý hình thành tay nghề mà còn hình thành cả thái độ đối với nghề nghiệp. Để ngăn ngừa các tai nạn lao động có thể xảy ra, có một số điểm cần được lưu ý là:

     – Thống nhất các mã thông tin, thông báo.

     – Dạy thực hiện các thao tác phụ và các thao tác chính tốt như nhau (trên thực tế, các thao tác phụ dễ gây ra tai nạn. Ngoài ra, con người thường có khuynh hướng xem nhẹ sự nguy hiểm của tai nạn lao động).

     – “Học đón trước” giúp người lao động có khả năng đoán trước (nhìn thấy trước) các tình huống nguy hiểm để có thể giải quyết chúng nhanh chóng, hiệu quả và điều đó giúp nâng cao an toàn lao động.

     – Xây dựng các nhóm lao động dựa trên các đặc điểm về chuẩn mực của nhóm.

     – Hình thành thái độ trách nhiệm đối với an toàn lao động…

     c/ Tổ chức lao động sẽ giúp xác định được các điều kiện tối ưu để hệ thống vận hành tốt. Liên quan đến vấn đề này có nhiều công việc cụ thể như:

     – Hoàn thiện sự hợp tác giữa các đơn vị dịch vụ.

     – Hoàn thiện chương trình thông tin về an toàn lao động.

     – Bố trí các vị trí làm việc phù hợp.

     – Đối với những loại hình công việc trong đó các thao tác lao động mang tính đơn điệu cao cần tổ chức luân phiên công nhân làm việc ở những vị trí khác  nhau để tránh cảm giác nhàm chán (là cái làm cho mệt mỏi đến sớm) từ đó làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và giảm tai nạn lao động.

     – Thay đổi nhịp độ của các động tác trong băng chuyền theo quy luật của sức làm việc. Sự thay đổi có điều chỉnh nhịp độ trong thời gian một ca sản xuất sẽ hạ thấp tính đơn điệu, do đó sẽ làm giảm sự mệt mỏi và giảm tai nạn lao động.

     – Xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, khoa học, đặc biệt quan tâm các giờ giải lao ngắn của công nhân (nhằm đón trước sự mệt mỏi) và sử dụng thể dục sản xuất.

     – Sử dụng hợp lý, khoa học các phương pháp tác động thẩm mỹ khác nhau trong sản xuất, nhất là màu sắc và âm nhạc.

     – Xây dựng và sử dụng hệ thống thưởng – phạt hợp lý. Theo các nhà Tâm lý học An toàn lao động, việc khiển trách, áp dụng các hình phạt (ví dụ, đe doạ thu hồi hoặc thu hồi các khoản đã chi trả) đối với người lao động, trong nhiều trường hợp không giải quyết được vấn đề mà chỉ khiến họ giấu giếm việc họ đã phạm sai sót. Thay vì tra vấn họ hãy xem xét hoặc điều chỉnh lại các quy định, quy trình an toàn lao động.  

d/ Áp dụng các nguyên tắc của Ecgônômi (thiết kế hoặc sửa chữa) nhằm điều chỉnh một số khiếm khuyết hoặc thiết lập các nhiệm vụ an toàn lao động cho máy ngay trong giai đoạn thiết kế (lắp đặt các thiết bị an toàn, làm cho thiết bị phù hợp với các đặc điểm nhân trắc của người lao động); Hoàn thiện môi trường lao động; Hoàn thiện việc bảo dưỡng máy móc và nơi làm việc của người lao động. Các nguyên tắc của Ecgônômi phải luôn luôn lưu ý tới những khả năng cũng như giới hạn về mặt tâm – sinh lý của người lao động.

     Chẳng hạn, các nhà Tâm lý học thuộc hãng Hàng không Boeing đã sử dụng các kiến thức tâm lý học của mình tham gia vào việc thiết kế máy bay (thiết kế lắp đặt bảng điều khiển, thiết kế chỗ ngồi của phi công, thiết kế màn hình máy tính trong khoang lái, hoàn thiện các thông tin cảnh báo, chỉ báo…), xây dựng quy trình bảo dưỡng bảo trì máy bay (rất quan trọng), tuyển chọn nhân sự, xây dựng các quy tắc an toàn lao động… nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn cho các chuyến bay thương mại. Một chương trình bảo dưỡng đã trở nên khá nổi tiếng trong ngành hàng không là Maintenance Error Decision Aid (viết tắt là MEDA) đã được xây dựng và ứng dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước. Các nguyên tắc chính của MEDA là:

     – Yếu tố cơ học không có xu hướng tạo ra các sai sót.

     – Các sai sót là kết quả của các yếu tố như: Tài liệu hướng dẫn viết không rõ ràng, thiếu giao tiếp giữa các nhân viên khi họ giao ca, hoặc công nhân bị thiếu những công cụ lao động cần thiết.

     – Các nhà quản lý có thể xác định các nhân tố tạo ra sai sót (chẳng hạn, họ có thể mua các thiết bị hoặc làm rõ những chỉ dẫn về bảo dưỡng…).

     Nhìn chung, chương trình này nhấn mạnh đến những yếu tố tâm lý nằm sau các sai sót (quá trình giao tiếp bị gián đoạn, việc đào tạo không đúng…).

     e/ Hoàn thiện các mối quan hệ sản xuất nói riêng và các mối quan hệ người – người nói chung. Hoạt động lao động sản xuất công nghiệp đặt cá nhân vào một hệ thống các mối quan hệ phức tạp cả về phương diện kỹ thuật lẫn về phương diện xã hội. Cùng một lúc, lao động công nghiệp vừa đòi hỏi vừa giáo dục những khả năng kỹ thuật nghề nghiệp và khả năng phối hợp, khả năng thích nghi, sự trưởng thành xã hội cho cá nhân.        Lao động công nghiệp ngày nay yêu cầu và tạo ra những đặc điểm mới của nhân cách người lao động. Ngoài những thay đổi mà nó mang đến cho mối quan hệ trực tiếp Người – Máy, nền sản xuất hiện đại còn tác động đến cả quan hệ Người-Người trong mỗi hệ thống sản xuất. Vì vậy, các mối quan hệ sản xuất phải được thường xuyên hoàn thiện.

     f/ Hiểu, đánh giá đúng đắn, khoa học các yếu tố Tâm – sinh lý của người lao động có liên quan trực tiếp đến công việc mà họ đang đảm nhận. Công việc đánh giá cần phải được làm thường xuyên để kịp thời có những can thiệp phù hợp nhằm tránh tai nạn có thể xảy ra cho người lao động (phân công bố trí công việc khác phù hợp; điều chỉnh chế độ làm việc, nghỉ ngơi cho hợp lý…). Việc các nhà quản lí lao động và người sử dụng lao động nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người, quan tâm trước hết đến bản thân người lao động, hiểu các đặc điểm tâm – sinh lí của người lao động sẽ góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

     Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề an toàn lao động không có nghĩa là chỉ nói đến lĩnh vực lao động sản xuất công nghiệp. Trong lĩnh vực văn phũng, vấn đề này cũng cần được quan tâm, nhất là hiện nay, công cụ lao động của các nhân viên văn phòng chủ yếu là các loại máy móc thiết bị điện tử. Ở đây cũng có những lời khuyên từ các nhà tâm lý học về vệ sinh an toàn lao động của viên chức – một mảng nghiên cứu khác về an toàn lao động của người lao động. 

5. CẦN LÀM GÌ ĐỂ VĂN PHÒNG LÀM VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN, VỆ SINH?

     Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng, so với môi trường lao động sản xuất thì văn phòng làm việc có ít yếu tố nguy cơ gây hại cho sức khỏe hay tính mạng của người lao động. Nhưng theo các chuyên gia tư vấn về sức khỏe nghề nghiệp, nhân viên văn phòng thường phải làm việc với máy tính trong khoảng thời gian kéo dài, khiến gây ra đau mỏi do các cử động lặp đi lặp lại và các tổn thương cơ xương khác. Hội chứng rãnh xương cổ tay, lún đĩa đệm là những ví dụ tổn thương điển hình thực sự làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động. Các tổn thương này sẽ không bao giờ được phục hồi và do vậy, chúng thực sự đáng phải được quan tâm từ phía các nhà quản lí sử dụng lao động.

     Ken Buchkowski – chuyên gia tư vấn về nguồn nhân lực, tại văn phòng lao động và nguồn nhân lực Alberta (Canada) cho rằng, có khoảng 70% các trường hợp tổn thương của nhân viên văn phòng là có liên quan trực tiếp tới công việc của họ. Theo ông, chúng ta không nên chỉ chú ý làm thế nào để tránh các tổn thương, mà còn phải chú ý tới cả các yếu tố có thể gây ra các tổn thương như các yếu tố về công thái học, bố trí vị trí làm việc của người lao động và các yếu tố nguy hiểm có thể gây trơn, trượt, vấp ngã…Còn Denis Malayko đó nói một cách chắc chắn rằng, nhân viên văn phòng sẽ tránh được các tổn thương do các thao tác lặp đi lặp lại (hội chứng “Bàn tay già cỗi” thể hiện rõ ở những người là thư kí tòa án và nhân viên nhập số liệu) nếu họ thực hiện một số lần giải lao hợp lý, bởi “nghỉ giải lao là vấn đề mấu chốt của chúng ta”.

     Andy Smith và Denis Malayko đều đang làm việc cho Chương trình An toàn và Sức khỏe nơi làm việc của chính phủ Alberta. Đây là chương trình thường cung cấp các nguồn thông tin rất bổ ích về an toàn văn phòng làm việc, ví dụ như mô hình huấn luyện mới về cụng thỏi học cho nhõn viờn văn phũng. Buchkowski cho biết, tại văn phũng Lao động và Nguồn nhân lực Alberta, nhân viên được lựa chọn cho mỡnh 1 trong 4 kiểu ghế phự hợp về công thái học. Một ví dụ khác về việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa tổn thương là sử dụng màn hình phẳng và bàn phím không dây để làm giảm các tổn thương do động tác lặp đi lặp lại. Các chuyên gia hướng dẫn cho nhân viên văn phòng biết cách phát hiện các dấu hiệu sớm của tổn thương như tê, ngứa, nóng đầu ngón tay và huấn luyện nâng cao nhận thức cho họ để họ hiểu rằng, họ không nên chấp nhận các loại tổn thương như vậy, đồng thời giúp họ biết phải làm như thế nào để hạn chế, ngăn ngừa các loại tổn thương đó.

     Chất lượng không khí cũng là yếu tố cần được xem xét dựa vào những hướng dẫn liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng không khí tại văn phòng làm việc mà các chuyên gia nghiên cứu đề xuất. Trước đây, sau khi công đoàn viên chức Alberta nhận thấy rằng có rất nhiều đoàn viên của mình bị mệt mỏi do không khí trong phòng làm việc không được lưu thông tốt, họ đó đề nghị chính phủ cho ban hành hướng dẫn về nồng độ cácbon dioxide và nồng độ ô nhiễm không khí cho phép tại văn phòng nơi làm việc. Hiện tại, quy định nồng độ carbon dioxide là 800ppm (phần nghìn). Đây là ngưỡng có thể chấp nhận được (hàm lượng carbon dioxide ngoài trời trung bình là 380ppm). Nghề làm việc trong văn phòng cũng có rất nhiều yếu tố nguy hiểm có hại và nó hoàn toàn không như người ta vẫn nghĩ rằng đây là nghề ngồi bàn giấy.

     Để phòng ngừa một số yếu tố nguy cơ có hại thường gặp tại văn phòng làm việc, các chuyên gia đưa ra một số lưu ý sau:

     a/ Tránh các tổn thương ở lưng khi nâng nhấc:

     – Khi nâng một vật dưới sàn nhà, hãy ngồi gập gối sát với vật cần nâng, lưng thẳng (không được gập lưng), nâng vật lên bằng lực đứng thẳng người lên của chân.

     – Không được ngồi trên ghế để nâng nhấc vật, hãy đứng dậy, di chuyển ghế ra chỗ khác trước khi nhấc.

     – Nếu phải chuyển một vật nặng ở khoảng cách xa, hãy sử dụng các thiết bị và dụng cụ hỗ trợ nâng nhấc bằng tay.

     –  Sử dụng các dụng cụ trợ giúp vận chuyển để vận chuyển thiết bị, vật dụng cồng kềnh, nặng.

     – Trước khi di chuyển vật hãy chú ý dọn dẹp các vật cản trên đoạn đường di chuyển.

     – Khi di chuyển vật, không được để vật che mất tầm nhìn.

     – Cất gọn các dụng cụ trợ giúp vận chuyển ngay sau khi kết thúc công việc.

     – Khi làm việc với các thiết bị văn phòng hãy tập trung vào công việc đang làm. Chú ý vị trí đặt các ngón tay, chú ý tóc và quần áo gọn gàng để không bị vướng.

     – Luôn sử dụng thang gấp để lấy các vật trên cao, không được sử dụng ghế thay cho thang.

     – Hãy thông báo về những hư hỏng của sàn nhà.

     – Khi bị ngã lao người về phía trước, hãy thả lỏng cuốn người ra trước, không được cố cưỡng lại. Nếu cưỡng lại có thể bị gãy tay.

     b/ Cất giữ tài liệu:

     – Không được chất tài liệu thành chồng quá cao.

     – Để các tài liệu nặng ở tầng dưới của gía, nhưng không được đặt dưới nền nhà để hạn chế các tổn thương ở lưng khi nâng nhấc.

     – Cất giữ tài liệu trong các hộc tủ có cánh mở, nên xếp thứ tự và có khóa hộc tủ.

     – Không để tài liệu giữa các dãy ghế, góc phòng hay cản trở lối đi lại.

     – Không để tài liệu ở các vị trí gây cản trở cửa thoát hiểm hoặc che khuất các thiết bị, họng nước cứu hỏa.

     c/ Chất lượng không khí trong văn phòng làm việc:

     – Lau chùi và bảo dưỡng các thiết bị văn phũng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất (các thiết bị này nếu không được chỳ ý làm vệ sinh sẽ cú thể sinh ra các chất gây ô nhiễm).

     – Thay đổi công việc để hạn chế việc sử dụng một loại thiết bị quá lâu.

     – Để máy photocopy cách xa vị trí bàn làm việc.

     – Đảm bảo thông gió hợp lí vì trong quá trình làm việc có thể sinh ra các chất gây ô nhiễm như sơn, chất diệt côn trùng, chất tẩy rửa…

     d/ Chiếu sáng và thiết bị điện:

     – Sử dụng chiếu sáng đồng đều để giảm bóng gây giảm thị lực.

     – Sử dụng ánh sáng tự nhiên bổ sung cho chiếu sáng chung tại văn phòng.

     – Chú ý không để dây dẫn điện, ổ cắm vắt ngang qua lối đi.

6. KẾT LUẬN

     Việc các nhà quản lí lao động và người sử dụng lao động nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người, quan tâm trước hết đến bản thân người lao động, hiểu các đặc điểm tâm – sinh lí của người lao động sẽ góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn – vệ sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.